I Mở đầu:
Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1030/QĐ-TTg, ngày 20/7/2009 với mục tiêu tổng quát là: “Phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường”.
Ngành công nghiệp môi trường Việt Nam còn rất non trẻ và đang ở giai đoạn đầu phát triển. Mãi đến năm 2007 trong Niên giám thống kê bước đầu mới có các số liệu về công nghiệp môi trường( nhóm ngành E ). Tuy vậy, các doanh nghiệp công nghiệp môi trường trên thực tế đã có từ rất sớm, xuất phát điểm là các công ty môi trường đô thị, chuyên cung cấp các dịch vụ vệ sinh và xử lý chất thải cho các đô thị (URENCO).
Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường (1993), công tác bảo vệ môi trường đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần phát triển kinh tế -xã hội của đất nước theo hướng tăng trưởng bền vững. Nhiều tổ chức hoạt động dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải, xử lý chất thải độc hại, nước thải, xử lý ô nhiễm không khí, tiếng ồn…ngày càng được củng cố và mở rộng phạm vi hoạt động, nhiều tổ chức mới được hình thành và phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.
Theo số liệu khảo sát của Tổng cục Môi trường, đến cuối năm 2012, tại 53 tỉnh/thành phố trên cả nước có 3.928 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường. Theo số liệu khảo sát tại 493 doanh nghiệp đại diện cho các địa phương trong cả nước thì thành phần doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 8,7%; công ty cổ phần chiếm 25%; 2,8% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; còn 63,5% là các doanh nghiệp tư nhân. Số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nhu cầu đầu tư cho bảo vệ môi trường ở 16 ngành và lĩnh vực kinh tế của Việt Nam có thể lên tới 7,6 tỷ USD.
Sau đây là vài nét ngắn gọn về hiện trạng một số lĩnh vực mà ngành công nghiệp môi trường có trách nhiệm giải quyết:
1. Về nước thải, hiện nay trên địa bàn cả nước, số lượng nước thải chưa được xử lý còn tồn đọng rất nhiều. Lượng nước thải chưa qua xử lý cả nước là 1,5 tỷ m3, trong đó nước thải các khu đô thị và khu công nghiệp khoảng 1 tỷ m3. Vậy mà mới có khoảng 30% cơ sở sản xuất công nghiệp có trạm xử lý nước thải, nhưng hầu hết cơ sở vận hành không đúng quy trình kỹ thuật, hoặc không vận hành thường xuyên.
Tính đến năm 2012, cả nước có 289 khu công nghiệp trong đó có 179 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, thu hút gần 5.000 dự án đầu tư. Tuy nhiên, chỉ có 143 khu công nghiệp đã vận hành hoặc đang xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (HTXLNTTT), trong đó chỉ có 84 khu công nghiệp đã hoàn thành việc đấu nối nước thải từ tất cả các cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp vào HTXLNTTT, chiếm tỷ lệ 59%. Tuy nhiên, cũng giống như các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhiều hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động không hiệu quả, chất lượng nước thải chưa đạt tiêu chuẩn , hoặc không hoạt động.
2. Về rác thải sinh hoạt, tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở các đô thị khoảng gần 30. 000 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom và xử lý đạt 83%. Ở nông thôn là khoảng 5000 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 50-60%, có nơi thấp hơn 30%. Ở Việt Nam xử lý chất thải rắn chủ yếu là chôn lấp, chiếm 85% tổng lượng rác thải.
Cả nước mới có 12 tỉnh với 16 cơ sở chế biến rác đang hoạt động với công suất 3000-4000 tấn/ngày và 14 cơ sở khác đang xây dựng, đáp ứng 15% nhu cầu xử lý. Hiện nay chỉ có khoảng 9% đô thị có nhà máy chế biến phân compost. Cả nước ta chưa có địa phương nào có mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoàn thiện, đạt được các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế và môi trường.
3.Về rác thải Y tế: Theo số liệu của Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường, ngành y tế có hơn 11.600 cơ sở khám chữa bệnh với tổng lượng chất thải rắn khoảng 350 tấn/ngày, trong đó có 40 tấn là chất thải y tế nguy hại, nhưng chỉ có 35% số cơ sở có lò đốt chất thải y tế, nhưng hoạt động cũng không hiệu quả. Tương tự như vậy chỉ có 351 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải hoạt động tốt, 835 bệnh viện cần phải sửa chữa, nâng cấp, hoặc xây mới.
4. Về chất thải nguy hại: Theo khảo sát của Tổng cục Môi trường (tháng 9/2009), đối với 35/64 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thì tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh khoảng 984.405 tấn/năm.Với năng lực chế biến hiện nay của khoảng 86 cơ sở đã được cấp giấy phép mới chỉ đáp ứng 14-15% nhu cầu. Đây là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý môi trường Việt Nam, nhưng lại là thị trường lớn cho các doanh nghiệp đầu tư.
5.Về khí thải công nghiệp: Chủ yếu là xử lý khí NOx, COx và các khí độc hại và bụi từ các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, luyện thép , xi măng và vật liệu xây dựng….Việc chế biến khí thải theo hướng công nghiệp thu giữ cacbon, tái sử dụng nguồn cacbon ở nước ta còn chưa được tiến hành vì nước ta chưa phải cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính.
Hiện nay khí thải gây ô nhiễm chủ yếu là bụi, nhiều cơ sở công nghiệp có lượng bụi ô nhiễm vượt giới hạn cho phép , đặc biệt là các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng.Các cơ sở đang từng bước khắc phục tình trạng này bằng việc xử dụng các công nghệ sản xuất trong nước và rất có hiệu quả.
6. Về công nghiệp tái chế chất thải: Ở Việt Nam công nghiệp tái chế dựa vào 2 mảng chính đó là tái chế gắn với xử lý chất thải và tái chế dựa trên nhập khẩu phế liệu:
a) Tái chế khi xử lý chất thải gồm có tái chế chất thải hữu cơ làm phân vi sinh, đốt rác phát điện, tái chế rác thải thành viên nhiên liệu, tái chế dầu thải, tái chế nhựa nylon, cao su thành sản phẩm dầu PO, RO, tái chế dầu thải, tái chế và thu hồi kim loại và đốt các chất thải nguy hại thu hồi nhiệt, phát điện. Các hoạt động này còn ở quy mô vừa và nhỏ, có hoạt động mới ở giai đoạn thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ (đốt rác phát điện, đốt chất thải nguy hại thu nhiệt/hoặc phát điện). Nhưng có một điểm cần lưu ý là chính bản thân quá trình tái chế cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ở các làng nghề tái chế chất thải. Do đó cần có công nghệ tiên tiến và phù hợp với điều kiện Việt Nam để ngăn ngừa ô nhiễm không khí và nước ở các cơ sở tái chế chất thải .
b) Tái chế dựa vào nhập khẩu phế liệu: Được tiến hành chủ yếu tại các cơ sở sản xuất công nghiệp. Phổ biến nhất là tái chế kim loại của các nhà máy luyện phôi thép sử dụng nguồn thép phế liệu nhập khẩu ( chiếm70% )và một phần thu mua trong nước.Tiếp đó là tái chế giấy, các cơ sở sản xuất giấy của Việt Nam dã sử dụng tới 70% nguyên liệu là giấy phế nhập khẩu.
Để làm ra giấy bao bì và giấy in báo, ngành giấy đã sử dụng 100% nguyên liệu giấy tái chế. Riêng ngành nhựa Việt Nam cũng sử dụng rất nhiều phế liệu nhựa nhập khẩu để tái chế và sản xuất ra gần 4 triệu tấn sản phẩm/năm. Hàng năm ngành nhựa nhập khẩu tới 2,5 triệu tấn nguyên liệu nhựa, trong đó 80% là nhựa phế liệu.
7. Sản xuất thiết bị công nghệ và chế phẩm môi trường: Trên thế giới thiết bị công nghệ môi trường chiếm khoảng 15% trong tổng giá trị của ngành. Công nghiệp môi trường ở Việt Nam mới phát triển, quy mô còn nhỏ, do đó sản xuất thiết bị công nghệ môi trường cũng còn ở mức nhỏ lẻ, chưa có các cơ sở công nghiệp chuyên sản xuất thiết bị, mà còn đan xen , kết hợp với một số ngành nghề khác như cơ khí, xây dựng, hóa chất , tự động hóa và điện tử- công nghệ thông tin. Tuy vậy với mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp môi trường thì lĩnh vực sản xuất thiết bị công nghệ, chế phẩm môi trường cũng sẽ có một thị trường đủ lớn để phát triển.Trước hết đó là các thiết bị để xử lý khí thải, chất thải rắn( trong đó có thiết bị thu gom và vận chuyển rác, phân loại rác, tái chế rác thải…), xử lý nước thải, các thiết bị đo, các hóa chất và chế phẩm môi trường…
II. Vai trò của các hội và hiệp hội nghề nghiệp trong phát triển công nghiệp môi trường
Ngành công nghiệp môi trường như trên đã trình bày có phạm vi hoạt động rất rộng và là ngành có quan hệ đan xen với rất nhiều ngành công nghiệp khác, ví dụ với ngành cơ khí chế tạo, hóa chất, Tự động hóa, sinh học, vật lý, vật liệu mới, xây dựng, nhựa, giấy, dệt may, da giầy…Chính vì thế, để phát triển ngành công nghiệp môi trường cần có sự tham gia của nhiều hội và hiệp hội ngành nghề.
Sau đây là một số Hội và Hiệp hội chính có vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp môi trường:
1. Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam (VEIA): Còn rất non trẻ, chính thức được thành lập ngày 23/4/2011. Hiệp hội là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được thành lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng công nghệ thuộc ngành công nghiệp môi trường
Mục đích của Hiệp hội là tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên: tạo điều kiện cho các hội viên hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động, nhằm góp phần phát triển công nghiệp môi trương Việt Nam; xử lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường, nhằm phát triển bền vững đất nước.
Hiệp hội hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp môi trường, bao gồm: Thiết bị công nghệ môi trường, dịch vụ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên, phục hồi môi trường.Trong hơn 3 năm qua Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam đã chủ trì thực hiện các đề tài nghiên cứu chính sau:
- Nghiên cứu cơ chế chính sách , định hướng đổi mới công nghệ để giảm thiểu khí nhà kính hướng tới nền kinh tế cacbon thấp phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam đối với các khu kinh tế ven biển.
- Đánh giá thực trạng cơ chế chính sách phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam.
- Đề xuất chính sách hỗ trợ sử dụng nhiên liệu sạch (LPG,CNG)trong vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại các thành phố lớn.
- Đánh giá tiềm năng phát triển các dự án tạo tín chỉ cacbon trong các hoạt động xử lý chất thải và đề xuất giải pháp hỗ trợ phát triển.
- Xây dựng tài liệu hướng dẫn cho các khu công nghiệp và khu chế xuất lựa chọn công nghệ xử lý nước thải tập trung phù hợp.
Các nghiên này bước đầu giúp cho phát triển ngành công nghiệp môi trường và tạo ra sự hợp tác giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp.
2. Tổng hội Cơ khí Việt Nam (VFMEA): Là tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà tiền thân là Hội Kỹ thuật, Khoa học cơ khí Việt Nam, được thành lập từ 31/3/1988, đến năm 2007 được chuyển thành Tổng hội Cơ khí Việt Nam. Tổng hội có chức năng điều hòa phối hợp các hoạt động của các hội thành viên trong việc tập hợp, động viên và giúp đỡ các cán bộ chuyên ngành về cơ khí nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp; Thực hiện chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội, tham gia ý kiến xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách, pháp luật cũng như các kế hoạch, dự án phát triển khoa học, công nghệ liên quan đến cơ khí; Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, lập các dự án nghiên cứu ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống; tham gia đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cơ khí. Lực lượng các nhà nghiên cứu của VFMEA có thể phối hợp với các doanh nghiệp công nghiệp môi trường trong việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị công nghệ môi trường như thiết bị xử lý khí thải, xử lý chất thải rắn (nghiên cứu thiết kế các lò đốt công suất nhỏ và vừa), các thiết bị phân loại rác và các modul chế biến đi kèm, các thiết bị tái chế rác thải và một số thiết bị xử lý nước thải (các loại máy bơm, van,bồn bình…)
3. Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI0): Ra đời vào tháng 11/2002 trên cơ sở tách ra từ Tổng hội cơ khí Việt Nam, nhằm tạo nên sự hợp tác, hỗ trợ giữa các doanh nghiệp cơ khí trong nước để thúc đẩy doanh nghiệp cơ khí phát triển và bảo vệ quyền lợi của hội viên trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.
Các doanh nghiệp của VAMI đã tham gia tích cực vào sản xuất các thiết bị công nghệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xây dựng và lắp đặt thiết bị cho các nhà máy, xí nghiệp mà có chức năng tự xử lý môi trường như xử lý khí thải, bui công nghiệp, nước thải và rác thải công nghiệp. Một số doanh nghiệp khác của VAMI có thể cung cấp các thiết bị thu gom và vận chuyển như xe ép rác, xe quét rác, xe hút bụi đường, xe thu gom chất thải lỏng, chất thải nguy hại, xe bơm hút… Các doanh nghiệp cơ khí của VAMI cũng có thể tham gia xây dựng các lò đốt rác, các dây chuyền phân loại rác và cả các nhà máy đốt rác phát điện công suất nhỏ…
4. Hội hóa học Việt Nam (CSV): Hoạt động từ năm 1989, CSV là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực hóa chất.
Hội hóa học Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu tìm ra các hóa chất, hóa phẩm trong công nghệ xử lý nước thải, đặc biệt các nhà khoa học tại các Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo có thể phối hợp với các doanh nghiệp công nghiệp môi trường nghiên cứu tìm ra các hóa chất tách màu cho nước thải, từ các nhà máy nhuộm và hoàn tất vải, các nhà máy thuộc da, khử mùi hôi của rác thải và nước thải, xử lý các loại dầu mỡ, hoặc các hóa phẩm ủ phân compost.v.v…
5. Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam (VUREIA) - Vietnam Urban Environment and Industry Zone Association): Ra đời từ năm 1998, là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường ở các đô thị và khu công nghiệp.
VUREIA có quan hệ gắn bó mật thiết với ngành công nghiệp môi trường, vì hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực quản lý môi trường, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị( URENCO) và khu công nghiệp trong phạm vi toàn quốc. Nhiều URENCO của VUREIA hiện đang là các doanh nghiệp lớn hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực công nghiệp môi trường.
Có thể nói rất nhiều hội viên của VUREIA đồng thời cũng là các hội viên tích cực của Hiệp hội Môi trường công nghiệp, nên trực tiếp đóng góp cho sự phát triển của ngành công nghiệp môi trường
6. Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) : Được thành lập 14/10/1994 với tên gọi ban đầu là Hội Khoa học và Công nghệ Tự động Việt Nam, sau đó tại Đại hội III đổi tên thành Hội Tự động hóa.
VAA là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công dân và tổ chức Việt Nam (trí thức, tổ chức khoa học& công nghệ và doanh nghiệp) hoạt động trong lĩnh vực tự động hóa ở Việt Nam.
VAA có thể phối hợp với các doanh nghiệp công nghiệp môi trường trong việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị đo có độ chính xác và chất lượng cao, đồng thời có thể thiết kế, tích hợp và lắp đặt các dây chuyền tự động cho các trung tâm xử lý nước thải, các nhà máy đốt rác, hoặc tái chế rác.
7. Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) Được thành lập vào tháng 11 năm 1988. VACNE là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của tổ chức, công dân Việt Nam tham gia các hoạt động phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ môi trường khu vực, thế giới.
Với mục tiêu chung là sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường nên VACNE có thể phối hợp chặt trẽ với VEIA trong việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp môi trường.Đồng thời có thể cung cấp cho ngành công nghiệp môi trường các chuyên gia giỏi,có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động bảo vệ môi trường.
8.Tổng hội Xây dựng Việt Nam: Được thành lập tháng 8 năm 1982. VFCEA là tổ chức xã hội-nghề nghiệp tự nguyện tập hợp của các tổ chức hội chuyên ngành về xây dựng, hội Xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hội viên tập thể, chi hội và hội viên là các công dân Việt Nam là chuyên gia đầu ngành về xây dựng.
Với vai trò và chức năng của mình, VFCEA có thể phối hợp với các doanh nghiệp công nghiệp môi trường trong việc tư vấn, xây dựng các khu xử lý nước thải tập trung, xây dựng các lò đốt rác công suất lớn, các nhà máy tái chế chất thải…
III. Kết luận
Để đạt được mục tiêu đến năm 2025 phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng trong cơ cấu phát triển ngành công nghiệp Việt Nam và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường, các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cao về môi trường có khả năng giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên thì ngành công nghiệp môi trường phải có sự hợp tác chặt trẽ với các hội, hiệp hội ngành nghề để trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong hoạt động, hướng tới sự phát triển bền vững ngành công nghiệp môi trường Việt Nam.
TS.Đỗ Hữu Hào - Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp môi trường